Yêu cầu “Tuyên bố một người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi"?
CÂU HỎI :Yêu cầu “Tuyên bố một người có khó khăn trong nhận thức,
làm chủ hành vi"?
(Trả lời
bên dưới)
Yêu cầu “Tuyên bố một người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi"?
Khác với việc
tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, chế định “Tuyên bố một người
có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi” là một điểm mới nhân văn của
Bộ luật Dân sự 2015 nhằm bảo vệ quyền lợi của những người tuy chưa mất hẳn nhận
thức nhưng khả năng tự quyết định đã bị suy giảm đáng kể (ví dụ: người già bị
suy giảm trí nhớ, người bị bệnh tai biến, đột quỵ nhẹ, hoặc các chứng bệnh tâm
thần thể nhẹ...).
Yêu cầu này
cũng thuộc nhóm việc dân sự và được giải quyết theo quy trình thủ tục cụ
thể dưới đây:
1. Điều
kiện để tuyên bố một người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi
Theo Điều 23 Bộ luật Dân sự 2015, Tòa án chỉ ra quyết định tuyên bố khi đáp ứng đủ
các điều kiện:
Người đó là người thành niên.
Do tình trạng thể chất hoặc tinh
thần mà không đủ khả năng nhận thức, làm chủ hành vi nhưng chưa
đến mức mất năng lực hành vi dân sự.
Có yêu cầu của chính người đó,
người có quyền, nghĩa vụ liên quan hoặc cơ quan, tổ chức hữu quan.
Bắt buộc có kết luận giám định
pháp y tâm thần
xác định mức độ khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi của họ.
2. Hồ sơ
chuẩn bị
Theo quy định
của Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015, hồ sơ nộp lên Tòa án bao gồm:
Đơn yêu cầu giải quyết việc dân
sự: (Theo Mẫu số 01-VDS Đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự ban hành kèm theo Nghị quyết số 04/2018/NQ-HĐTP ngày 09 tháng 8 năm 2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao). Trong đơn phải nêu rõ lý do yêu cầu, mối quan hệ với người bị yêu
cầu, và đặc biệt phải đề xuất người giám hộ hoặc người đại diện dự kiến
(thường là người làm đơn).
Kết luận giám định pháp y tâm thần: Bản gốc kết luận từ tổ chức
giám định có thẩm quyền. Nếu chưa có, phải nộp kèm Đơn đề nghị Tòa án
trưng cầu giám định và các hồ sơ bệnh án, sổ khám bệnh liên quan để
làm căn cứ.
Giấy tờ nhân thân: Căn cước công dân của người nộp
đơn, người bị yêu cầu và người dự kiến làm người giám hộ.
Giấy tờ chứng minh quan hệ: Giấy khai sinh, Giấy chứng nhận
kết hôn... để xác định tư cách người có quyền, nghĩa vụ liên quan nếu
không phải chính người đó tự nộp đơn.
3. Thẩm
quyền giải quyết của Tòa án
Thẩm quyền theo cấp: Tòa án nhân dân Khu vực (Khoản 4 Điều 35 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015).
Thẩm quyền theo lãnh thổ: Tòa án nơi người có khó khăn
trong nhận thức, làm chủ hành vi cư trú hoặc làm việc (Điểm a Khoản
2 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015).
4. Trình
tự, thủ tục giải quyết tại Tòa án
Bước 1: Nộp
hồ sơ và Thụ lý
Người yêu cầu nộp hồ sơ đến Tòa
án. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, Tòa án xem xét kiểm tra đơn.
Khi hồ sơ hợp lệ, Tòa án ra
thông báo nộp lệ phí. Sau khi nộp biên lai thu lệ phí việc dân sự, Tòa án
chính thức thụ lý việc dân sự.
Bước 2:
Chuẩn bị xét đơn yêu cầu
Thời hạn chuẩn bị xét đơn là 01
tháng kể từ ngày thụ lý.
Tòa án sẽ thông báo cho các bên
liên quan, làm việc với người bị yêu cầu, kiểm tra kết luận giám định hoặc
tiến hành trưng cầu giám định (nếu trước đó người dân chưa tự thực hiện).
Thời gian giám định không tính vào thời hạn 1 tháng này.
Bước 3: Mở
phiên họp giải quyết việc dân sự
Tòa án mở phiên họp công khai
trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày ra quyết định mở phiên họp.
Thành phần tham gia bắt buộc gồm:
Thẩm phán chủ trì, Kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp, người yêu cầu,
người bị yêu cầu (hoặc người đại diện hợp pháp), người dự kiến được chỉ định
làm người giám hộ.
Bước 4:
Ra quyết định
Nếu đơn yêu cầu có căn cứ, Tòa
án ra Quyết định tuyên bố một người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ
hành vi.
Nội dung đặc biệt trong quyết định: Tòa án phải chỉ định rõ người
giám hộ, xác định cụ thể phạm vi quyền, nghĩa vụ của người giám hộ
(được thay mặt thực hiện những giao dịch nào, những giao dịch nào người bệnh
vẫn tự mình thực hiện được).
5. Hậu quả
pháp lý và Điểm khác biệt quan trọng
Không giống
như người mất năng lực hành vi dân sự (bị tước bỏ hoàn toàn quyền tự thực hiện
giao dịch), hậu quả pháp lý ở đây mang tính linh hoạt:
Quyền tự quyết tối đa: Người có khó khăn trong nhận thức,
làm chủ hành vi vẫn có năng lực hành vi dân sự. Họ chỉ bị hạn chế một
phần tùy thuộc vào nội dung quyết định của Tòa án.
Cơ chế giám hộ: Các giao dịch dân sự, lao động
hoặc các quan hệ pháp lý khác liên quan đến quyền, nghĩa vụ của họ sẽ do
người giám hộ đại diện hoặc đồng ý, nhưng chỉ giới hạn trong phạm vi mà
Tòa án đã quyết định.
Ví dụ: Tòa án có thể quyết định người giám
hộ chỉ đại diện trong các giao dịch định đoạt tài sản lớn (bán đất, rút tiền tiết
kiệm lớn), còn các giao dịch sinh hoạt hàng ngày người đó vẫn tự thực hiện.
Khi tình trạng
sức khỏe, tinh thần của người này hồi phục, chính họ hoặc người liên quan có
quyền nộp đơn yêu cầu Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định nêu trên.
Luật
gia Vlog NGUYỄN KIỆT tổng hợp và phân tích
Văn bản này cung cấp một cái nhìn chi tiết về quy định pháp lý của Việt Nam liên quan đến việc tuyên bố một người có khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi theo Bộ luật Dân sự 2015. Tài liệu giải thích rõ đây là một cơ chế mang tính nhân văn nhằm bảo vệ quyền lợi cho người trưởng thành bị suy giảm năng lực trí tuệ nhưng chưa đến mức mất hoàn toàn năng lực hành vi. Người đọc sẽ tìm thấy các hướng dẫn cụ thể về điều kiện cần thiết, thành phần hồ sơ chuẩn bị và thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Nguồn tin cũng mô tả tỉ mỉ trình tự thủ tục bốn bước từ khâu nộp đơn đến khi ra quyết định chính thức. Đặc biệt, nội dung nhấn mạnh sự khác biệt cốt lõi là người được tuyên bố vẫn giữ được quyền tự quyết tối đa trong các giao dịch sinh hoạt hàng ngày. Cuối cùng, văn bản làm rõ vai trò của người giám hộ chỉ giới hạn trong phạm vi hỗ trợ các giao dịch quan trọng do Tòa án chỉ định.
-Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015:Khoản 4 Điều 35;Điểm a Khoản 2 Điều 39
Văn bản hướng dẫn :
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Người thành niên do tình trạng thể chất hoặc tinh thần mà không đủ khả năng nhận thức, làm chủ hành vi nhưng chưa đến mức mất năng lực hành vi dân sự thì theo yêu cầu của người này, người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần, Tòa án ra quyết định tuyên bố người này là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi và chỉ định người giám hộ, xác định quyền, nghĩa vụ của người giám hộ.
Khi không còn căn cứ tuyên bố một người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi thì theo yêu cầu của chính người đó hoặc của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan,Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.
LƯU Ý: Nội dung AI được biên tập bởi Luật gia Vlog NGUYỄN KIỆT, nhằm mang đến cho đoc giả NHỮNG CƠ SỞ PHÁP LÝ QUAN TRỌNG đã được áp dụng trên thực tế khi xét xử...Mọi thắc mắc, chia sẻ, trao đổi mang tính học thuật hoặc cần HỖ TRỢ TƯ VẤNPHÁP LUẬT MIỄN PHÍ. Vui lòng liên hệ số di động ZALO của KÊNH. Trân trọng!
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét