Trong hệ thống
pháp luật an sinh xã hội tại Việt Nam, đối tượng tham gia Bảo hiểm xã hội
(BHXH) bắt buộc được xác định dựa trên tiêu chí cốt lõi là mối quan hệ
lao động (có sự thuê mướn, trả công và quản lý). Việc phân
tích đối tượng này có thể chia thành các nhóm chính sau đây theo quy định hiện
hành (Luật BHXH 2014 và các văn bản mở rộng):
1. Nhóm
người lao động làm việc theo hợp đồng (HĐLĐ) Đây là nhóm
đối tượng đông đảo và quan trọng nhất trong hệ thống BHXH bắt buộc.
- Điều kiện: Người làm việc theo HĐLĐ không
xác định thời hạn, HĐLĐ xác định thời hạn, hoặc HĐLĐ theo mùa vụ/công việc
nhất định có thời hạn từ đủ 01 tháng trở lên.
- Đặc điểm: Bao gồm cả người lao động là
công dân Việt Nam và người lao động là công dân nước ngoài làm việc tại Việt
Nam (có giấy phép lao động hoặc chứng chỉ hành nghề).
- Ý nghĩa: Việc mở rộng xuống mức hợp đồng
1 tháng nhằm bao phủ lưới an sinh cho nhóm lao động ngắn hạn, tránh tình
trạng doanh nghiệp "lách luật" bằng cách ký nhiều hợp đồng ngắn
ngày.
2. Nhóm
cán bộ, công chức, viên chức
- Đối tượng: Những người làm việc trong các
cơ quan Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, đơn vị sự nghiệp công lập từ
trung ương đến địa phương.
- Đặc điểm: Nhóm này có tính ổn định cao.
Chế độ BHXH đối với họ không chỉ là quyền lợi lao động mà còn là chính
sách đối với đội ngũ thực thi công vụ.
3. Nhóm lực
lượng vũ trang
- Đối tượng: Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp
quân đội; sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ công an; người làm công tác cơ yếu
hưởng lương như quân nhân.
- Đặc điểm: Đây là nhóm đối tượng đặc thù,
thường có các quy định riêng về tuổi nghỉ hưu và cách tính lương hưu để
phù hợp với tính chất lao động đặc biệt của ngành quốc phòng, an ninh.
4. Nhóm
người quản lý doanh nghiệp, điều hành hợp tác xã
- Đối tượng: Người quản lý doanh nghiệp, người
quản lý điều hành hợp tác xã có hưởng tiền lương.
- Đặc điểm: Dù họ là chủ sở hữu hoặc người
điều hành, nhưng nếu họ trực tiếp tham gia lao động và nhận lương từ kết
quả kinh doanh thì vẫn thuộc diện bắt buộc tham gia để đảm bảo an sinh cá
nhân.
5. Nhóm
người đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng
- Đối tượng: Người lao động Việt Nam đi làm
việc tại nước ngoài theo các hình thức hợp đồng cung ứng lao động hoặc hợp
đồng cá nhân.
- Đặc điểm: Nhóm này tham gia đóng vào quỹ
hưu trí và tử tuất để đảm bảo thời gian đóng BHXH không bị gián đoạn, giúp
họ có cơ hội hưởng lương hưu khi trở về nước.
6. Nhóm
người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã
- Đối tượng: Những người làm việc tại xã,
phường, thị trấn nhưng không thuộc biên chế công chức (ví dụ: Phó Chủ tịch
Hội phụ nữ, Bí thư Đoàn thanh niên xã...).
- Đặc điểm: Trước đây nhóm này thường đứng
ngoài hệ thống bắt buộc, nhưng hiện nay đã được đưa vào để tăng cường diện
bao phủ an sinh cho đội ngũ cán bộ cơ sở.
Bảng phân
tích theo tiêu chí phân loại
|
Nhóm đối
tượng
|
Căn cứ
tham gia
|
Chế độ
được hưởng
|
|
Lao động
có HĐLĐ
|
Tiền lương
tháng
|
Đầy đủ 5
chế độ (Ốm đau, thai sản, TNLĐ-BNN, hưu trí, tử tuất).
|
|
Cán bộ
xã không chuyên trách
|
Mức lương
cơ sở
|
Chỉ hưởng
2 chế độ (Hưu trí và Tử tuất).
|
|
Lao động
nước ngoài
|
Giấy phép
lao động
|
Tương tự
lao động Việt Nam (trừ một số trường hợp đặc thù).
|
Nhận xét
chung 1.
Tính bao trùm:
Đối tượng tham gia BHXH bắt buộc tại Việt Nam đang ngày càng mở rộng, hướng tới
mục tiêu BHXH toàn dân. 2.
Tính cưỡng chế:
Tất cả các đối tượng nêu trên, khi đã đủ điều kiện theo luật định, thì việc
đóng BHXH là nghĩa vụ của cả người lao động và người sử dụng lao động,
không được phép thỏa thuận khác. 3.
Mối quan hệ đóng - hưởng: Đối tượng tham gia càng rộng thì quỹ BHXH càng bền vững, tạo
sự chia sẻ rủi ro giữa các nhóm ngành nghề và độ tuổi khác nhau trong xã hội.
|
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét