Dưới đây là
phân tích chi tiết về quy định buộc thực hiện biện pháp bảo đảm và trách nhiệm
bồi thường thiệt hại do áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời
(BPKCTT) không đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 (BLTTDS
2015).
1. Việc
buộc thực hiện biện pháp bảo đảm Mục đích
của biện pháp bảo đảm Quy định nhằm
phòng ngừa việc đương sự lạm dụng quyền yêu cầu áp dụng BPKCTT để gây khó dễ hoặc
thiệt hại cho người khác. Đồng thời, đây cũng là nguồn tài sản sẵn sàng để bồi
thường nếu yêu cầu áp dụng BPKCTT là không đúng. Các trường
hợp bắt buộc phải thực hiện Theo quy định
tại Điều 136 BLTTDS 2015, người yêu cầu Tòa án áp dụng BPKCTT bắt buộc
phải thực hiện biện pháp bảo đảm đối với các trường hợp sau đây:
- Kê biên tài sản đang tranh chấp.
- Cấm chuyển dịch quyền về tài sản
đối với tài sản đang tranh chấp.
- Cấm thay đổi hiện trạng tài sản
đang tranh chấp.
- Phong tỏa tài khoản tại ngân
hàng, tổ chức tín dụng khác, Kho bạc Nhà nước; phong tỏa tài sản ở nơi gửi
giữ.
- Phong tỏa tài sản của người có
nghĩa vụ.
- Tạm dừng việc đóng thầu và các
hoạt động có liên quan đến việc đấu thầu.
- Bắt giữ tàu bay, tàu biển để bảo
đảm giải quyết vụ án.
Hình thức
và mức bảo đảm Người yêu cầu
phải thực hiện bằng một trong các hình thức sau:
- Gửi khoản tiền, kim khí quý, đá
quý hoặc giấy tờ có giá: Giá trị của tài sản này phải tương đương với tổn thất
hoặc thiệt hại có thể phát sinh do việc áp dụng BPKCTT không đúng. Khoản
tiền này được gửi vào tài khoản phong tỏa tại ngân hàng nơi có trụ sở của
Tòa án.
- Nộp chứng từ bảo lãnh: Được bảo đảm bằng tài sản của
ngân hàng hoặc tổ chức tín dụng khác.
Thủ tục
và thời hạn thực hiện
- Tòa án sẽ ấn định thời hạn cho
người yêu cầu thực hiện biện pháp bảo đảm.
- Người yêu cầu phải xuất trình
cho Tòa án chứng cứ về việc đã thực hiện xong biện pháp bảo đảm trước
khi Thẩm phán ra quyết định hoặc trước khi Hội đồng xét xử vào
phòng nghị án (nếu tại phiên tòa).
2. Trách
nhiệm bồi thường thiệt hại do yêu cầu BPKCTT không đúng Cơ sở
pháp lý Theo quy định
tại Khoản 1 Điều 113 BLTTDS 2015: - "Người
yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phải chịu trách nhiệm trước
pháp luật về yêu cầu của mình; trường hợp yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm
thời không đúng mà gây thiệt hại cho người bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời
hoặc cho người thứ ba thì phải bồi thường."
Các điều
kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường Trách nhiệm
bồi thường thiệt hại chỉ phát sinh khi thỏa mãn đầy đủ các yếu tố cấu thành
sau: 1.
Có hành vi yêu cầu, thay đổi hoặc hủy bỏ BPKCTT không đúng: Hành vi này xuất phát từ lỗi chủ
quan của người yêu cầu khi không cung cấp đủ căn cứ chứng minh sự cần thiết, hoặc
lạm dụng quyền tố tụng. 2.
Có thiệt hại thực tế xảy ra: Thiệt hại có thể tính toán được bằng tiền như giảm sút thu
nhập, chi phí khắc phục tình trạng bị áp dụng BPKCTT, hoặc hư hỏng tài sản. 3.
Có mối quan hệ nhân quả: Thiệt hại thực tế xảy ra là hậu quả trực tiếp từ quyết định
áp dụng BPKCTT không đúng. Thủ tục
giải quyết yêu cầu bồi thường
- Giải quyết trong cùng vụ án: Tòa án đang giải quyết vụ án
dân sự đó sẽ xem xét yêu cầu bồi thường thiệt hại của đương sự (nếu có yêu
cầu).
- Giải quyết bằng vụ án khác: Nếu đương sự chưa có điều kiện
hoặc tài liệu để chứng minh mức độ thiệt hại trong cùng phiên tòa, Tòa án
có thể tách yêu cầu bồi thường thiệt hại để giải quyết bằng một vụ án dân
sự khác sau khi vụ án chính được xét xử xong.
3. Xử lý
tài sản bảo đảm khi hủy bỏ BPKCTT Khi Tòa án
ra quyết định hủy bỏ BPKCTT do yêu cầu không đúng hoặc căn cứ áp dụng không
còn, Tòa án sẽ ra quyết định để người yêu cầu nhận lại chứng từ bảo lãnh hoặc
khoản tiền/tài sản đã dùng để bảo đảm (theo Điều 138 BLTTDS 2015). Trong trường
hợp có phát sinh yêu cầu bồi thường thiệt hại, phần tài sản bảo đảm này sẽ được
giữ lại để đảm bảo việc thực hiện nghĩa vụ bồi thường cho bên bị thiệt hại. |
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét