Phân tích
khái niệm, nguyên tắc, phạm vi, nội dung và thủ tục hoà giải vụ án dân sự Hòa giải là
một trong những nguyên tắc cơ bản và là thủ tục tố tụng quan trọng trong quá
trình giải quyết vụ án dân sự tại Việt Nam, nhằm tạo điều kiện để các đương sự
tự thỏa thuận giải quyết vụ án, góp phần bảo đảm quan hệ đoàn kết trong nội bộ
nhân dân và giảm tải cho Tòa án.
1. Khái
niệm hòa giải vụ án dân sự Hòa giải
trong vụ án dân sự là hoạt động do Tòa án tiến hành nhằm hỗ trợ các đương sự thỏa
thuận với nhau về việc giải quyết vụ án, phù hợp với quy định của pháp luật.
- Cơ sở pháp lý: Được quy định tại Điều 10 và
Chương XIII của Bộ luật Tố tụng Dân sự (BLTTDS) 2015.
- Bản chất pháp lý: Đây là một thủ tục tố tụng bắt
buộc trong giai đoạn chuẩn bị xét xử (trừ một số trường hợp ngoại lệ), thể
hiện quyền tự định đoạt của đương sự.
2. Các
nguyên tắc tiến hành hòa giải Khi tiến
hành hòa giải, Tòa án và các đương sự phải tuân thủ các nguyên tắc sau đây để bảo
đảm tính khách quan và quyền lợi hợp pháp:
- Tôn trọng sự tự nguyện thỏa thuận: Các đương sự có toàn quyền quyết
định việc có tham gia hòa giải và nội dung hòa giải hay không. Tòa án
không được dùng vũ lực, đe dọa hoặc ép buộc đương sự phải thỏa thuận trái
ý muốn.
- Tuân thủ pháp luật: Nội dung thỏa thuận của các
đương sự không được vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội.
- Tôn trọng quyền và lợi ích hợp
pháp: Không xâm
phạm quyền, lợi ích hợp pháp của người khác hoặc lợi ích công cộng, lợi
ích của Nhà nước.
3. Phạm
vi hòa giải Theo quy định
của BLTTDS 2015, Tòa án tiến hành hòa giải tất cả các vụ án dân sự, ngoại trừ
các trường hợp loại trừ được chia thành hai nhóm chính:
|
Nhóm
trường hợp
|
Quy định
cụ thể
|
|
Vụ án
dân sự không được hòa giải
|
- Yêu cầu
đòi bồi thường thiệt hại do phá hoại tài sản của Nhà nước.
- Những vụ
án phát sinh từ giao dịch dân sự vi phạm điều cấm của luật hoặc trái đạo đức
xã hội.
|
|
Vụ án
dân sự không tiến hành hòa giải được
|
- Bị đơn,
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai
mà vẫn cố tình vắng mặt.
- Đương sự
không thể tham gia hòa giải được vì có lý do chính đáng.
- Đương sự
là người có nhược điểm về thể chất hoặc tinh thần mà không thể tự mình tham
gia hòa giải.
|
4. Nội
dung hòa giải Trong phiên
họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, nội dung
công việc bao gồm:
- Phổ biến quyền và nghĩa vụ: Thẩm phán giải thích cho các
đương sự biết quyền, nghĩa vụ tố tụng và hậu quả pháp lý của việc hòa giải
thành hoặc không thành.
- Trình bày yêu cầu và chứng cứ: Cho các đương sự trình bày nội
dung tranh chấp, yêu cầu và cung cấp tài liệu, chứng cứ chứng minh.
- Đề xuất phương án: Các đương sự tự do đề xuất các
phương án giải quyết vụ án.
- Ghi nhận sự thỏa thuận: Thẩm phán hướng dẫn và ghi nhận
sự thỏa thuận của các bên vào biên bản nếu các bên đạt được tiếng nói
chung.
5. Thủ tục
hòa giải Thủ tục tiến
hành hòa giải được thực hiện theo các bước chặt chẽ tại Điều 210, Điều 211 và
Điều 212 BLTTDS 2015: a. Chuẩn
bị phiên họp hòa giải
- Tòa án ra quyết định đưa vụ án
ra hòa giải, thông báo cho đương sự, người đại diện hợp pháp, người bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự biết thời gian, địa điểm tiến hành
phiên họp.
b. Tiến
hành phiên họp
- Thành phần tham gia: Thẩm phán (chủ trì), Thư ký
phiên họp (ghi biên bản), các đương sự hoặc người đại diện hợp pháp của họ.
Viện kiểm sát tham gia phiên họp đối với các trường hợp quy định tại Khoản
2 Điều 21 của BLTTDS 2015.
- Trình tự: Thẩm phán công bố tài liệu, chứng
cứ, các bên trao đổi, thảo luận và đề xuất phương án giải quyết.
c. Kết quả
hòa giải
- Hòa giải thành:
- Lập biên bản hòa giải thành. Hết
thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản mà các đương sự không có
sự thay đổi ý kiến về sự thỏa thuận đó thì Thẩm phán ra Quyết định
công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.
- Quyết định này có hiệu lực pháp
luật ngay và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
- Hòa giải không thành:
- Lập biên bản hòa giải không
thành.
- Thẩm phán tiếp tục hoàn thiện hồ
sơ và ra quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung nếu vụ án
không thuộc trường hợp tạm đình chỉ hoặc đình chỉ.
|
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét