Khi kết quả thẩm định giá sai lệch dẫn đến việc ngân
hàng cho vay quá giá trị thực tế của tài sản, gây ra nợ xấu hoặc thất thoát tài
sản khi xử lý nợ, doanh nghiệp thẩm định giá (DNTĐG) phải đối mặt với trách nhiệm
dân sự rất nặng nề.
Trách nhiệm này được thiết lập dựa trên ba trụ cột
pháp lý chính:
1. Căn cứ từ hợp đồng (Trách nhiệm dân sự trong hợp đồng)
Dù bên thứ ba (ngân hàng) thường không phải là bên trực
tiếp ký hợp đồng thuê thẩm định giá (thường là khách hàng vay ký), nhưng hiệu lực
pháp lý của Chứng thư vẫn ràng buộc trách nhiệm của doanh nghiệp với bên sử dụng
kết quả.
- Vi phạm nghĩa vụ bảo đảm tính chính xác: DNTĐG cam kết kết quả thẩm định giá phản ánh trung thực giá trị
tài sản. Khi kết quả sai lệch do lỗi chủ quan (tính toán sai, dùng dữ liệu
giả), doanh nghiệp đã vi phạm nghĩa vụ cơ bản của hợp đồng dịch vụ.
- Điều khoản về bên thứ ba: Trong Chứng
thư thường có mục "Mục đích thẩm định giá" (ví dụ: để thế chấp
vay vốn ngân hàng). Khi DNTĐG xác nhận mục đích này, họ đã mặc nhiên thừa
nhận trách nhiệm đối với bên thứ ba sử dụng kết quả đó một cách hợp pháp.
2. Căn cứ từ quy định chuyên ngành (Luật Giá)
Đây là căn cứ đặc thù và mạnh mẽ nhất để bảo vệ bên thứ
ba:
- Nghĩa vụ bồi thường: Luật Giá quy
định rõ DNTĐG phải bồi thường thiệt hại cho khách hàng hoặc bên thứ ba
sử dụng kết quả thẩm định giá mà bị thiệt hại do lỗi của doanh nghiệp.
- Vi phạm Tiêu chuẩn thẩm định giá: Nếu
ngân hàng chứng minh được doanh nghiệp đã bỏ qua các bước bắt buộc (không
khảo sát thực địa, sử dụng tài sản so sánh không có thật), thì đây là lỗi
vi phạm pháp luật định danh, là cơ sở để yêu cầu bồi thường.
3. Căn cứ ngoài hợp đồng (Lỗi vô ý gây thiệt hại)
Trong trường hợp không có mối quan hệ hợp đồng trực tiếp,
ngân hàng vẫn có thể khởi kiện dựa trên chế định Bồi thường thiệt hại ngoài
hợp đồng theo Bộ luật Dân sự:
- Hành vi trái pháp luật: Phát hành chứng
thư sai sự thật.
- Có thiệt hại thực tế: Khoản nợ
không thể thu hồi do tài sản bị "thổi giá".
- Mối quan hệ nhân quả: Nếu không có
con số sai lệch trong chứng thư, ngân hàng đã không phê duyệt khoản vay
cao như vậy.
- Yếu tố lỗi: Doanh nghiệp đã thiếu
trách nhiệm (cẩu thả) hoặc cố ý thông đồng với khách hàng để làm sai lệch
kết quả.
4. Cơ chế bảo đảm thi hành: Bảo hiểm trách nhiệm nghề
nghiệp
Để đảm bảo khả năng chi trả khi có sai sót, pháp luật
bắt buộc DNTĐG phải:
1. Mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp thẩm định
giá hoặc;
2. Trích lập quỹ dự phòng rủi ro nghề nghiệp.
Khi xảy ra thiệt hại, công ty bảo hiểm sẽ là đơn vị trực
tiếp chi trả bồi thường cho ngân hàng trong phạm vi mức trách nhiệm đã mua,
giúp giảm bớt gánh nặng tài chính cho doanh nghiệp nhưng vẫn đảm bảo quyền lợi
cho bên thứ ba.
5. Các trường hợp miễn trừ trách nhiệm
DNTĐG sẽ không phải bồi thường nếu chứng minh được:
- Thiệt hại do khách hàng cung cấp thông tin, tài liệu giả mạo
mà bằng các biện pháp nghiệp vụ thông thường TĐV không thể phát hiện được.
- Ngân hàng sử dụng chứng thư sai mục đích hoặc quá thời hạn
hiệu lực (thường là 06 tháng) ghi trên chứng thư.
- Các biến động bất khả kháng của thị trường sau thời điểm thẩm định
giá mà TĐV đã thực hiện phân tích độ nhạy và cảnh báo trong báo cáo.
Lưu ý thực tế: Trong các vụ án
kinh tế lớn tại Việt Nam gần đây, các thẩm định viên thường bị truy cứu trách
nhiệm hình sự (tội "Vi phạm quy định về thẩm định giá") song song với
trách nhiệm dân sự bồi thường thiệt hại nếu có hành vi thông đồng, nâng khống
giá trị tài sản để rút tiền từ ngân hàng.
Thông tin này có giúp ích cho phần phân tích về
"Chính sách hình sự" và trách nhiệm dân sự trong bài nghiên cứu của bạn
không?
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét