Trong hệ thống
nguồn của Luật Lao động, bên cạnh các văn bản quy phạm pháp luật do Nhà nước
ban hành (như Bộ luật Lao động, Nghị định, Thông tư), Thỏa ước lao động tập
thể (TƯLĐTT) và Nội quy lao động (NQLĐ) được coi là những nguồn bổ
sung đặc thù. Dưới đây là
các lý do giải thích tại sao hai văn bản này lại mang tính chất là "nguồn"
của ngành luật này:
1. Tính
"luật con" trong phạm vi nội bộ doanh nghiệp Mặc dù không
phải do cơ quan quyền lực Nhà nước ban hành, nhưng TƯLĐTT và NQLĐ có giá trị bắt
buộc thi hành như pháp luật đối với các chủ thể trong phạm vi doanh nghiệp đó.
- Nội quy lao động: Là văn bản cụ thể hóa các quy định
của pháp luật về kỷ luật lao động và trách nhiệm vật chất phù hợp với đặc
thù sản xuất kinh doanh của từng doanh nghiệp. Một khi đã được ban hành
đúng trình tự, nó trở thành "quy tắc xử sự chung" mà mọi người
lao động phải tuân thủ.
- Thỏa ước lao động tập thể: Đây là kết quả của sự thương lượng,
là "đạo luật" của tập thể lao động. Nó xác lập các tiêu chuẩn
chung về điều kiện lao động, phúc lợi mà cả người sử dụng lao động và người
lao động đều phải chấp hành.
2. Cụ thể
hóa các quy định mang tính nguyên tắc của Nhà nước Các quy định
của Bộ luật Lao động thường mang tính khái quát, áp dụng cho mọi loại hình
doanh nghiệp. TƯLĐTT và NQLĐ đóng vai trò là cầu nối để đưa các quy tắc đó vào
thực tiễn.
- Ví dụ: Pháp luật quy định người sử dụng
lao động có quyền xử lý kỷ luật lao động, nhưng quy trình cụ thể, các hành
vi vi phạm cụ thể tại doanh nghiệp đó (như vi phạm về bí mật công nghệ, an
toàn vệ sinh đặc thù) phải được chi tiết hóa trong Nội quy lao động.
- Khi có tranh chấp xảy ra, Tòa án
hoặc các cơ quan giải quyết tranh chấp sẽ căn cứ vào NQLĐ hoặc TƯLĐTT (nếu
hợp pháp) để làm cơ sở ra quyết định, giống như căn cứ vào các điều khoản
của Luật.
3. Tạo ra
các tiêu chuẩn lao động cao hơn mức luật định Đây là lý do
quan trọng nhất khiến TƯLĐTT trở thành nguồn bổ sung giá trị. Pháp luật lao động
chỉ thiết lập các "tiêu chuẩn tối thiểu" (sàn pháp lý). TƯLĐTT
cho phép các bên tự xây dựng các quy tắc riêng có lợi hơn cho người lao động.
- Ví dụ: Luật quy định nghỉ phép năm là
12 ngày, nhưng TƯLĐTT của doanh nghiệp có thể quy định là 15 ngày. Lúc
này, quy định 15 ngày trong Thỏa ước trở thành "luật" áp dụng
riêng cho doanh nghiệp đó và có ưu tiên áp dụng hơn cả quy định của Bộ luật
Lao động.
4. Thu hẹp
khoảng trống pháp lý (Lấp lỗ hổng pháp luật) Trong nhiều
trường hợp, pháp luật chưa kịp điều chỉnh các quan hệ xã hội mới phát sinh hoặc
các đặc thù của từng ngành nghề.
- Các bên có thể thông qua thương
lượng tập thể để đưa vào TƯLĐTT những nội dung mới (ví dụ: quy định về làm
việc từ xa, quyền ngắt kết nối sau giờ làm việc, các khoản phụ cấp độc hại
đặc thù ngành hóa chất...). Khi đó, TƯLĐTT đóng vai trò là văn bản điều chỉnh
trực tiếp các quan hệ này khi pháp luật chung chưa có quy định cụ thể.
Tóm tắt
giá trị pháp lý làm nên tính chất "nguồn"
|
Đặc điểm
|
Luật
Lao động (Nhà nước)
|
TƯLĐTT
& NQLĐ (Doanh nghiệp)
|
|
Phạm vi
|
Toàn quốc,
mọi ngành nghề.
|
Nội bộ
doanh nghiệp/hợp tác xã.
|
|
Mục
tiêu
|
Thiết lập
sàn pháp lý tối thiểu.
|
Cụ thể hóa
và nâng cao tiêu chuẩn.
|
|
Giá trị
|
Bắt buộc
chung.
|
Bắt buộc đối
với các bên trong doanh nghiệp.
|
Kết luận: Nói TƯLĐTT và NQLĐ là nguồn bổ sung
của Luật Lao động vì chúng trực tiếp điều chỉnh các quan hệ lao động, có tính bắt
buộc cưỡng chế (trong phạm vi doanh nghiệp) và góp phần hoàn thiện cơ chế điều
chỉnh pháp luật đối với những đặc thù mà pháp luật chung không thể bao quát hết. Hy vọng phần
phân tích này giúp ích cho bài báo cáo nghiên cứu của bạn. Bạn có muốn tôi phân
tích thêm về điều kiện để một bản Thỏa ước lao động tập thể được coi là nguồn hợp
pháp không?
|
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét