Việc công nhận
và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài,
cũng như quyết định của Trọng tài nước ngoài, là một nội dung quan trọng trong
pháp luật tư pháp quốc tế. Cơ chế này nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của
các đương sự, đồng thời tôn trọng cam kết quốc tế của Việt Nam. Dưới đây là
phân tích những quy định chung và cơ bản nhất về thủ tục này theo pháp luật Việt
Nam.
1. Cơ sở
pháp lý Thủ tục công
nhận và cho thi hành được quy định chủ yếu trong các văn bản sau:
- Bộ luật Tố tụng Dân sự (BLTTDS)
2015: Phần thứ bảy (từ Điều 423 đến Điều 478) quy định chi tiết thẩm quyền, hồ sơ, và
trình tự xem xét đơn yêu cầu.
- Luật Tương trợ tư pháp 2007.
- Các Điều ước quốc tế: Các Hiệp định tương trợ tư
pháp song phương hoặc đa phương mà Việt Nam là thành viên.
2. Phạm
vi các bản án, quyết định được xem xét Theo quy định
tại Điều 423 BLTTDS 2015, Tòa án Việt Nam xem xét, công nhận và cho thi
hành:
- Bản án, quyết định dân sự của
Tòa án nước ngoài.
- Quyết định về nghĩa vụ tài sản,
trách nhiệm dân sự trong bản án, quyết định hình sự, hành chính của Tòa án
nước ngoài.
- Quyết định của cơ quan khác có
thẩm quyền của nước ngoài (ví dụ: quyết định về phá sản của Tòa án, tùy
thuộc vào Hiệp định tương trợ tư pháp ký kết).
- Phán quyết của Trọng tài nước
ngoài.
Lưu ý
nguyên tắc: Theo Điều 431, các bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài mà theo điều ước
quốc tế mà Việt Nam là thành viên không cần phải được Tòa án Việt Nam công nhận
thì đương nhiên được công nhận tại Việt Nam.
3. Các
nguyên tắc cơ bản áp dụng Khi xem xét
các yêu cầu này, Tòa án Việt Nam phải tuân thủ các nguyên tắc:
- Nguyên tắc có đi có lại (Điều 424): Áp dụng cho các trường
hợp hai nước chưa ký kết hoặc không có điều ước quốc tế. Việc công nhận dựa
trên sự đối xử bình đẳng và có đi có lại giữa Việt Nam và quốc gia của Tòa
án/Trọng tài đã ra quyết định.
- Không trái với các nguyên tắc cơ
bản của pháp luật Việt Nam (Điều 439).
- Tôn trọng độc lập, chủ quyền và
lợi ích quốc gia
của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.
4. Chủ thể
và thời hiệu yêu cầu
- Chủ thể có quyền yêu cầu:
- Người được thi hành án.
- Người có quyền, lợi ích hợp
pháp liên quan.
- Người đại diện hợp pháp của họ.
- Thời hiệu yêu cầu: Theo Điều 432 và Điều 451
BLTTDS 2015, thời hiệu yêu cầu công nhận và cho thi hành là 03 năm
kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật. Nếu quá thời hạn này
mà người làm đơn chứng minh được có sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại
khách quan, thời gian đó không được tính vào thời hạn gửi đơn.
5. Thẩm
quyền và trình tự giải quyết tại Tòa án Thẩm quyền
của Tòa án Việt Nam
- Đối với bản án, quyết định của
Tòa án nước ngoài: Tòa án nhân dân cấp tỉnh nơi người phải thi hành án
cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở.
- Đối với phán quyết của Trọng
tài nước ngoài: Tòa án nhân dân cấp tỉnh nơi người phải thi hành cư
trú, làm việc, có trụ sở, hoặc nơi có tài sản liên quan.
Hồ sơ yêu
cầu Người yêu cầu
phải chuẩn bị đầy đủ hồ sơ bao gồm: Đơn yêu cầu, bản sao bản án/quyết định, giấy
tờ xác nhận hiệu lực pháp luật của văn bản, xác nhận đã tống đạt hợp lệ, và bản
dịch tiếng Việt có công chứng hoặc chứng thực (đối với tài liệu bằng tiếng nước
ngoài). Trình tự
xét đơn
- Tòa án thụ lý hồ sơ và thông báo
cho Viện kiểm sát.
- Tòa án mở phiên họp do Hội đồng
gồm 03 Thẩm phán thực hiện.
- Hội đồng quyết định công nhận và
cho thi hành, hoặc không công nhận và cho thi hành.
6. Các
trường hợp từ chối công nhận và cho thi hành Theo quy định
tại Điều 439 (đối với Tòa án) và Điều 459 (đối với Trọng tài)
BLTTDS 2015, Tòa án Việt Nam có quyền từ chối công nhận và cho thi hành trong
các trường hợp sau: 1.
Bản
án, quyết định chưa có hiệu lực pháp luật theo pháp luật của nước có Tòa án/Trọng
tài đã ra quyết định. 2.
Người
phải thi hành vắng mặt tại phiên tòa do không được triệu tập hợp lệ. 3.
Tòa
án/Trọng tài nước ngoài không có thẩm quyền. 4.
Vụ
việc đã được Tòa án Việt Nam giải quyết hoặc đang bị Tòa án Việt Nam thụ lý. 5.
Trái
với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam.
Bạn có muốn
đi sâu vào phân tích các điểm mới trong việc áp dụng điều ước quốc tế hoặc thực
tiễn xét xử đối với phán quyết của trọng tài nước ngoài tại Việt Nam không?
|
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét