>>>đáp án

 Bài tập

Bản án số 1 DSPT 10/10/2017, của Tòa án thành phố H, tỉnh M tuyên: Buộc A phải trả cho V số tiền đã vay là 1,2 tỷ đồng. Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, V có đơn yêu cầu thi hành án gửi cơ quan thi hành án dân sự thành phố H, tỉnh M. Cơ quan thi hành án đã ra quyết định thi hành án và phân công chấp hành viên K tổ chức thi hành.

Qua xác minh trong tháng 3/2018, được biết A đứng tên sử dụng 01 mảnh đất có diện tích 100m2 trên địa bàn thành phố H. Tuy nhiên, A xuất trình hợp đồng ủy quyền lập ngày 01/3/2016 lập tại phòng Công chứng nhà nước tỉnh H có nội dung: A ủy quyền cho Vũ Văn B được toàn bộ quyền sử dụng, chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp đối với quyền sử dụng thửa đất nói trên.

Ngay sau khi chấp hành viên K xác minh được thông tin nói trên, ông Vũ Văn B đã thực hiện việc chuyển nhượng quyền sử dụng mảnh đất nói trên cho M. Chấp hành viên K đã tiến hành kê biên quyền sử dụng đất trên để thi hành án đối với ông A.

Theo anh chị, Chấp hành viên K đã tiến hành kê biên tài sản như trên là đúng hay sai? Tại sao?

=============

Chấp hành viên K đã tiến hành kê biên tài sản như trên là ĐÚNG

Chúng ta xét 03 mốc thời gian :

Bản án DSPT có hiệu lực ngày 10/10/2017

Hợp đồng uỷ quyền A ký cho Vũ Văn B : 01/03/2016

Chấp hành viên xác minh tài sản của A :T3/2018

Tại thời điểm bản ản có hiệu lực, miếng đất 100m2 vẫn còn là tài sản thuộc Quyền sử dụng của A ( HĐ uỷ quyền c

=================

Chào bạn, đây là một tình huống rất điển hình và thú vị trong thực tiễn thi hành án dân sự (THADS), liên quan mật thiết đến bản chất của hợp đồng ủy quyềnquyền sở hữu tài sản.

Trong tình huống này, Chấp hành viên (CHV) K tiến hành kê biên mảnh đất 100m² của ông A để thi hành án là ĐÚNG pháp luật. Dưới đây là các căn cứ pháp lý để giải thích chi tiết cho bạn:

1. Bản chất của Hợp đồng ủy quyền không làm thay đổi quyền sở hữu tài sản

  • Căn cứ pháp lý: Điều 562 Bộ luật Dân sự (BLDS) 2015 về Hợp đồng ủy quyền.
  • Phân tích: Hợp đồng ủy quyền chỉ là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên được ủy quyền (ông B) thực hiện công việc nhân danh bên ủy quyền (ông A).
  • Do đó, dù ông A có ủy quyền cho ông B toàn bộ quyền định đoạt (chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp...) thì ông A vẫn là chủ sở hữu hợp pháp đối với mảnh đất này cho đến khi tài sản được chuyển dịch quyền sở hữu cho người khác theo quy định. Hợp đồng ủy quyền không chuyển dịch quyền sở hữu mảnh đất từ ông A sang ông B.

2. Hành vi chuyển nhượng của ông B cho ông M nhằm tẩu tán tài sản

  • Căn cứ pháp lý: Khoản 11 Điều 24 Nghị định 62/2015/NĐ-CP (sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 33/2020/NĐ-CP) và Điều 75 Luật THADS 2008.
  • Phân tích: Bản án đã có hiệu lực pháp luật, ông A đã có quyết định thi hành án và biết rõ nghĩa vụ trả nợ của mình. Việc ông B (với tư cách là người đại diện theo ủy quyền của A) nhanh chóng thực hiện việc chuyển nhượng đất cho ông M ngay sau khi CHV xác minh được thông tin tài sản là hành vi tẩu tán tài sản nhằm trốn tránh nghĩa vụ thi hành án.
  • Quy định pháp luật nêu rõ: Kể từ thời điểm có bản án, quyết định sơ thẩm mà người phải thi hành án chuyển đổi, chuyển nhượng... tài sản của mình cho người khác nhằm trốn tránh nghĩa vụ thì Cơ quan THADS vẫn có quyền kê biên, xử lý tài sản đó để thi hành án.

3. Việc chuyển nhượng cho ông M chưa hoàn thành thủ tục pháp lý

  • Căn cứ pháp lý: Khoản 3 Điều 188 Luật Đất đai 2013 (hoặc Luật Đất đai 2024 tùy thời điểm xét xử, nhưng nguyên tắc không thay đổi).
  • Phân tích: Việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất chỉ có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký vào sổ địa chính. Tại thời điểm CHV K tiến hành kê biên, việc chuyển nhượng giữa ông B (đại diện cho A) và ông M mới vừa diễn ra thực tế, chưa hoàn tất thủ tục sang tên, đăng ký biến động đất đai. Vì vậy, về mặt pháp lý, mảnh đất vẫn thuộc quyền sử dụng của ông A.

⚖️ Kết luận tóm tắt

Chấp hành viên K kê biên mảnh đất là ĐÚNG. Vì mảnh đất vẫn thuộc sở hữu/quyền sử dụng hợp pháp của ông A (hợp đồng ủy quyền không làm mất quyền sở hữu của A). Việc ký hợp đồng chuyển nhượng cho ông M ngay khi xác minh là hành vi tẩu tán tài sản và thủ tục sang tên chưa hoàn tất, nên cơ quan THADS hoàn toàn có quyền áp dụng biện pháp cưỡng chế kê biên để bảo đảm thi hành án.

Lưu ý: Đối với ông M (người mua đất), ông M có quyền khởi kiện một vụ án dân sự khác yêu cầu ông A hoàn trả lại tiền mua đất và bồi thường thiệt hại (nếu có).

ð =>Trả lời chưa thoả đáng

---------------------------------------

Chấp hành viên K kê biên mảnh đất là ĐÚNG. Tuy nhiên Chấp hành viên K đã tiến hành kê biên quyền sử dụng đất trên để thi hành án đối với ông A là SAI

Vì trường hợp trên thuộc trường hợp Xử lý tài sản kê biên có tranh chấp với người khác.

Xem mục:

  1. Tài sản tranh chấp thì không được kê biên để thi hành án.>>>ĐÁP ÁN 5

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét