Dựa trực tiếp vào khoản 4 Điều 31, quy định về thẩm quyền áp dụng biện pháp bảo đảm và cưỡng chế của Văn phòng thi hành án dân sự / Thừa hành viên được phân định tuyệt đối như sau:
1. Thẩm quyền về Biện pháp Bảo đảm và Cưỡng chế
Trái ngược với suy đoán thông thường về việc xã hội hóa sẽ đi kèm với việc mở rộng quyền hạn, Luật 2025 đưa ra một ranh giới đỏ rất nghiêm ngặt:
Khoản 4 Điều 31 quy định rõ:
"Trưởng văn phòng thi hành án dân sự, Thừa hành viên không được áp dụng các quy định liên quan đến ủy thác thi hành án, ủy thác xử lý tài sản, áp dụng biện pháp bảo đảm, áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án và các quy định liên quan đến trường hợp cơ quan thi hành án dân sự chủ động ra quyết định thi hành án."
- Văn phòng THADS (Thừa hành viên): HOÀN TOÀN KHÔNG CÓ QUYỀN ban hành hay thực hiện bất kỳ biện pháp bảo đảm hoặc cưỡng chế thi hành án nào.
- Cơ quan THADS (Chấp hành viên): Là chủ thể duy nhất độc quyền nắm giữ và thực thi các biện pháp mang tính chất quyền lực công này (như phong tỏa tài khoản, kê biên tài sản, tạm hoãn xuất cảnh...).
2. Quy trình xử lý khi vụ việc cần Bảo đảm hoặc Cưỡng chế
Vì không có quyền cưỡng chế hay bảo đảm, nên khi một vụ việc do Văn phòng THADS thụ lý rơi vào tình trạng người phải thi hành án tẩu tán tài sản hoặc chây lỳ, quy trình sẽ được xử lý theo khoản 5 và khoản 6 Điều 31:
Quy trình chuyển giao hồ sơ
- 1.Người yêu cầu đề nghị chấm dứt hợp đồng:Bước khởi đầu.
- Khi phát hiện cần áp dụng biện pháp bảo đảm hoặc cưỡng chế, người yêu cầu thi hành án gửi văn bản đề nghị Văn phòng THADS chấm dứt việc thi hành án để chuyển sang cơ quan nhà nước (điểm d khoản 5).
- 2.Thu hồi quyết định và chuyển hồ sơ:Trong 02 ngày làm việc.
- Trưởng văn phòng THADS có nghĩa vụ thu hồi quyết định thi hành án cũ và bàn giao toàn bộ hồ sơ vụ việc cho Cơ quan THADS có thẩm quyền (phải lập biên bản giao nhận) (khoản 6).
- 3.Cơ quan nhà nước ra quyết định mới:Trong 05 ngày làm việc.
- Sau khi nhận đủ hồ sơ từ văn phòng chuyển sang, Thủ trưởng Cơ quan THADS nhà nước sẽ ra quyết định thi hành án mới và chính thức thụ lý để tổ chức thi hành, áp dụng các biện pháp bảo đảm/cưỡng chế theo luật định (khoản 6).
Bảng tổng hợp so sánh cập nhật chuẩn xác theo Điều 31 Luật Thi hành án dân sự năm 2025
Tiêu chí | Cơ quan thi hành án dân sự (Chấp hành viên) | Văn phòng thi hành án dân sự (Thừa hành viên) |
Cơ sở bắt đầu | Ra quyết định dựa trên Đơn yêu cầu thi hành án thông thường hoặc thuộc trường hợp Cơ quan nhà nước chủ động ra quyết định. | Hoạt động thương lượng, ký kết dựa trên Hợp đồng dịch vụ và thỏa thuận thù lao với khách hàng (khoản 3 Điều 31 Luật Thi hành án dân sự năm 2025). |
Biện pháp bảo đảm | Đầy đủ thẩm quyền quyết định và tổ chức thực hiện nhanh chóng. | Tuyệt đối không được áp dụng (khoản 4 Điều 31 Luật Thi hành án dân sự năm 2025). |
Biện pháp cưỡng chế | Độc quyền nắm giữ. Được quyền huy động các lực lượng ban ngành, công an hỗ trợ cưỡng chế. | Tuyệt đối không được áp dụng (khoản 4 Điều 31 Luật Thi hành án dân sự năm 2025). |
Ủy thác thi hành án / Xử lý tài sản | Có quyền ủy thác sang địa bàn khác nếu tài sản hoặc đương sự di chuyển vị trí. | Không được quyền ủy thác (khoản 4). Chỉ được làm trong phạm vi địa bàn tỉnh/thành phố nơi đặt trụ sở (khoản 1). |
Xử lý khi không có điều kiện thi hành | Sẽ ra quyết định hoãn, tạm đình chỉ hoặc xếp hồ sơ theo dõi. | Sẽ chấm dứt việc thi hành án và thanh lý hợp đồng dịch vụ với khách hàng (điểm c khoản 5). |
Giá trị pháp lý cốt lõi: Dù bị hạn chế về quyền cưỡng chế, nhưng Luật 2025 khẳng định rất rõ tại khoản 6: "Kết quả thi hành án do văn phòng thi hành án dân sự thực hiện đúng quy định của pháp luật được công nhận và sử dụng". Nghĩa là các bước xác minh, thu hồi tài sản tự nguyện trước đó của Thừa hành viên hoàn toàn có giá trị pháp lý tương đương với cơ quan nhà nước.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét