Khái niệm "hôn
nhân thực tế" là một thuật ngữ pháp lý dùng để chỉ các trường hợp nam
nữ chung sống với nhau như vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà
nước có thẩm quyền.
Dựa trên các
văn bản pháp luật hiện hành và các văn bản hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối
cao, điều kiện để được công nhận hôn nhân thực tế được phân chia theo từng giai
đoạn lịch sử cụ thể như sau:
1. Giai
đoạn từ trước ngày 03/01/1987
Đây là giai
đoạn pháp luật Việt Nam có sự linh hoạt nhất đối với hôn nhân thực tế. Theo Nghị quyết số 35/2000/QH10, nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng từ trước
ngày 03/01/1987 (ngày Luật Hôn nhân và Gia đình 1986 có hiệu lực) mà chưa đăng
ký kết hôn thì vẫn được công nhận là vợ chồng kể từ ngày họ bắt đầu
chung sống.
Điều kiện
cần đáp ứng:
- Hai bên phải có đủ điều kiện kết
hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1959.
- Việc chung sống phải mang tính
chất ổn định, công khai và được cộng đồng xung quanh thừa nhận là vợ chồng.
2. Giai
đoạn từ ngày 03/01/1987 đến trước ngày 01/01/2001
Trong giai
đoạn này, điều kiện để công nhận có sự thắt chặt hơn. Cụ thể:
- Nam và nữ chung sống với nhau
như vợ chồng trong khoảng thời gian này mà không đăng ký kết hôn thì có
nghĩa vụ phải đăng ký kết hôn trong thời hạn 02 năm (kể từ ngày
01/01/2001 đến ngày 01/01/2003).
- Nếu trong thời hạn này họ không
đăng ký mà sau đó có yêu cầu ly hôn, Tòa án sẽ tuyên bố không công nhận
quan hệ vợ chồng.
3. Giai
đoạn từ ngày 01/01/2001 đến nay
Theo quy định
tại Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 (và trước đó là Luật 2000):
- Việc kết hôn phải được đăng ký
và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện thì mới có giá trị pháp lý.
- Mọi trường hợp nam nữ chung sống
như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn từ sau năm 2001 trở đi đều không
được pháp luật công nhận là vợ chồng.
4. Hệ quả
pháp lý khi không được công nhận hôn nhân thực tế
Nếu quan hệ
không được công nhận là hôn nhân thực tế, khi phát sinh tranh chấp hoặc yêu cầu
ly hôn, các vấn đề sẽ được giải quyết như sau:
- Về quan hệ nhân thân: Tòa án ra quyết định không công
nhận quan hệ vợ chồng. Hai bên không có quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối
với nhau.
- Về con chung: Quyền và nghĩa vụ đối với con
(nuôi dưỡng, cấp dưỡng, chăm sóc) vẫn được giải quyết theo quy định của Luật
Hôn nhân và Gia đình như đối với con trong giá thú.
- Về tài sản: Được giải quyết theo thỏa thuận
giữa các bên. Nếu không thỏa thuận được thì giải quyết theo quy định của Bộ
luật Dân sự (thường dựa trên công sức đóng góp của mỗi bên), không áp
dụng nguyên tắc chia đôi tài sản chung của vợ chồng.
Lưu ý: Đối với những trường hợp chung sống
trước năm 1987, nếu hiện tại muốn xác lập quan hệ vợ chồng một cách chắc chắn
nhất để thực hiện các thủ tục thừa kế hoặc giấy tờ hành chính, các bên nên thực
hiện thủ tục đăng ký kết hôn muộn tại UBND cấp xã nơi cư trú.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét