4 – Sau khi cơ quan thi hành án ra quyết định thi hành án thì các đương sự không có quyền tự thỏa thuận về việc thi hành án dân sự
Nhận định
này: SAI.
Pháp luật
thi hành án dân sự Việt Nam luôn tôn trọng và ưu tiên quyền tự quyết, thỏa thuận
của các đương sự ở bất kỳ giai đoạn nào của quá trình thi hành án, kể cả
sau khi cơ quan thi hành án đã ra quyết định thi hành án.
1. Cơ sở
pháp lý
Theo Điều 6 Luật Thi hành án 2008
Theo Điều 5 【Nghị định 62/2015/NĐ-CP】:
- Các đương sự có quyền thỏa thuận
về việc thi hành án, quyền và nghĩa vụ thi hành án, phương thức thi hành
án, hoặc thỏa thuận không yêu cầu thi hành án một phần hoặc toàn bộ quyết
định của bản án.
- Thỏa thuận này có thể được thực
hiện trước khi yêu cầu thi hành án, trong quá trình thi hành
án (tức là sau khi đã có quyết định thi hành án) và phải đảm bảo không vi
phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội và không làm ảnh hưởng đến
quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba.
Ngoài ra, Điều
50 Luật Thi hành án dân sự cũng quy định Chấp hành viên sẽ ra quyết định đình
chỉ thi hành án nếu các đương sự thỏa thuận bằng văn bản về việc không yêu
cầu cơ quan thi hành án dân sự thi hành một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ.
2. Bản chất
của quy định
- Bản chất Dân sự: Bản chất của quan hệ thi hành
án dân sự là giải quyết các tranh chấp về tài sản, nghĩa vụ giữa các bên
đương sự. Do đó, quyền định đoạt cao nhất đối với quyền lợi của mình vẫn
thuộc về chính các đương sự.
- Giảm áp lực cho cơ quan nhà nước: Việc luật cho phép và khuyến
khích các bên tự thỏa thuận ngay cả khi đã ra quyết định thi hành án giúp
đẩy nhanh tiến độ giải quyết vụ việc, giảm chi phí, thời gian và công sức
cưỡng chế cho cả cơ quan thi hành án lẫn các bên liên quan.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét