>>>ĐÁP ÁN 2

Theo quy định của pháp luật thi hành án dân sự Việt Nam hiện hành, nhận định này chưa hoàn toàn chính xác.

Việc một người có thu nhập hay tài sản mới chỉ là điều kiện cần, chứ chưa đủ để khẳng định họ là "người có điều kiện thi hành án".

Để một người được xác định là có điều kiện thi hành án, cơ quan Chấp hành viên phải xét đến hai yếu tố cốt lõi sau:

1. Định lượng và giá trị của tài sản/thu nhập

Không phải cứ có tài sản là có điều kiện thi hành. Tài sản hoặc thu nhập đó phải đủ để thi hành nghĩa vụ trả tiền, tài sảnchi phí thi hành án.

  • Ví dụ: Nếu một người phải thi hành nghĩa vụ trả số tiền 500 triệu đồng, nhưng họ chỉ có một tài sản duy nhất là chiếc điện thoại cũ trị giá 2 triệu đồng hoặc thu nhập bấp bênh chỉ đủ chi trả mức sống tối thiểu, thì trên thực tế, họ vẫn bị xếp vào nhóm chưa có điều kiện thi hành án (hoặc chỉ có điều kiện thi hành một phần rất nhỏ).

2. Các khoản thu nhập miễn khấu trừ theo luật định

Pháp luật bảo hộ quyền sống và các nhu cầu sinh hoạt tối thiểu của người phải thi hành án cũng như gia đình họ. Do đó, thu nhập của họ phải lớn hơn mức tối thiểu này thì phần dư ra mới được tính là có điều kiện thi hành.

  • Theo quy định, không được khấu trừ vào thu nhập các khoản tiền lương, tiền công, tiền lương hưu, trợ cấp mất sức lao động nếu mức thu nhập đó chỉ vừa đủ để bảo đảm đời sống tối thiểu của người phải thi hành án và người mà họ có nghĩa vụ nuôi dưỡng.

Tóm lại: Người phải thi hành án có thu nhập, tài sản chỉ được coi là có điều kiện thi hành án khi giá trị tài sản, thu nhập đó lớn hơn mức tối thiểu bảo đảm cuộc sống và đủ (hoặc đủ một phần) để thực hiện nghĩa vụ thi hành án cũng như chi phí thi hành án.

 


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét