Trong quan hệ
dân sự, đại diện là việc một cá nhân hoặc pháp nhân (người đại diện) nhân danh
và vì lợi ích của cá nhân hoặc pháp nhân khác (người được đại diện) xác lập, thực
hiện giao dịch dân sự. Dưới đây là
phân tích chi tiết về phạm vi và thẩm quyền đại diện theo quy định của pháp luật
hiện hành.
1. Phạm
vi và Thẩm quyền đại diện Thẩm quyền đại
diện là quyền hạn mà người đại diện được phép thực hiện trong việc xác lập, thực
hiện giao dịch dân sự nhân danh người được đại diện. Các căn cứ
xác định phạm vi đại diện (Điều 141 BLDS 2015):
- Theo quyết định của cơ quan nhà
nước có thẩm quyền: Thường gặp trong đại diện cho người mất năng lực hành vi dân sự hoặc
trong tố tụng.
- Theo Điều lệ của pháp nhân: Quy định quyền hạn của người đứng
đầu hoặc các chức danh quản lý.
- Theo nội dung ủy quyền: Được xác định cụ thể trong hợp
đồng ủy quyền hoặc văn bản ủy quyền.
- Theo quy định pháp luật: Ví dụ cha mẹ là người đại diện
đương nhiên cho con chưa thành niên.
Nguyên tắc
thực hiện: 1.
Chỉ thực hiện trong phạm vi: Người đại diện chỉ được xác lập, thực hiện giao dịch dân sự
trong phạm vi đại diện đã được xác định. 2.
Thông báo cho bên thứ ba: Người đại diện có nghĩa vụ thông báo cho bên giao dịch biết
về phạm vi đại diện của mình. 3.
Cấm tự mình giao dịch: Người đại diện không được xác lập, thực hiện các giao dịch
dân sự với chính mình hoặc với bên thứ ba mà mình cũng là người đại diện của
người đó (trừ trường hợp pháp luật có quy định khác).
2. Vượt
quá thẩm quyền đại diện Vượt quá thẩm
quyền đại diện xảy ra khi người đại diện xác lập, thực hiện giao dịch nằm
ngoài giới hạn quyền hạn mà họ được cho phép hoặc khi không còn quyền đại
diện nhưng vẫn thực hiện. Hậu quả
pháp lý (Điều 143 BLDS 2015): Giao dịch
dân sự do người đại diện xác lập, thực hiện vượt quá phạm vi đại diện không
làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của người được đại diện đối với phần vượt
quá, trừ các trường hợp:
- Người được đại diện đồng ý (phê
chuẩn).
- Người được đại diện biết mà
không phản đối trong một thời hạn hợp lý.
- Người được đại diện có lỗi dẫn đến
việc bên kia tin rằng người đại diện có thẩm quyền.
3. Ví dụ
minh họa về vượt quá thẩm quyền đại diện Ví dụ 1:
Trong quan hệ ủy quyền cá nhân
- Tình huống: Ông A ủy quyền bằng văn bản cho
ông B thay mặt mình bán một căn nhà tại TP.HCM với giá không thấp hơn 5 tỷ
đồng. Tuy nhiên, trong quá trình đàm phán, ông B tự ý ký thêm một thỏa thuận
phụ cam kết ông A sẽ tặng lại toàn bộ nội thất cao cấp trong nhà (trị giá
500 triệu đồng) cho bên mua mà không có sự đồng ý của ông A.
- Phân tích: Việc ông B cam kết tặng nội thất
là hành vi vượt quá phạm vi ủy quyền (phạm vi chỉ là bán nhà). Ông
A không có nghĩa vụ phải giao nội thất trừ khi ông A chấp thuận thỏa thuận
này sau đó.
Ví dụ 2:
Trong hoạt động của doanh nghiệp
- Tình huống: Theo Điều lệ của Công ty X,
Giám đốc chỉ được quyền ký kết các hợp đồng kinh tế có giá trị dưới 1 tỷ đồng.
Đối với hợp đồng trên 1 tỷ đồng, phải có Nghị quyết của Hội đồng quản trị.
Tuy nhiên, Giám đốc đã tự ý ký kết một hợp đồng mua hàng trị giá 3 tỷ đồng
với Công ty Y mà chưa thông qua Hội đồng quản trị.
- Phân tích: Giám đốc đã vượt quá thẩm
quyền đại diện được quy định trong Điều lệ công ty. Nếu Công ty X
không phê chuẩn hợp đồng này, phần giá trị vượt quá (hoặc toàn bộ hợp đồng
tùy trường hợp) có thể bị tuyên vô hiệu, và Giám đốc phải chịu trách nhiệm
cá nhân đối với thiệt hại phát sinh cho Công ty Y.
Bảng tóm
tắt trách nhiệm khi vượt quá thẩm quyền:
|
Đối tượng
|
Trách
nhiệm pháp lý
|
|
Người
được đại diện
|
Không chịu
trách nhiệm đối với phần vượt quá (trừ khi phê chuẩn).
|
|
Người đại
diện
|
Phải thực
hiện nghĩa vụ và bồi thường thiệt hại cho bên thứ ba đối với phần vượt quá.
|
|
Bên thứ
ba
|
Có quyền
đơn phương chấm dứt hoặc hủy bỏ giao dịch đối với phần vượt quá hoặc toàn bộ
giao dịch.
|
|
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét